View Full Version: Đường Lối Ngoại Giao

5su > Chuyen De > Đường Lối Ngoại Giao


Title: Đường Lối Ngoại Giao


lvthanh371 - January 15, 2008 12:54 PM (GMT)
ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG TRONG CÁCH MẠNG
DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN (1945-1954)
I. Đường lối ngoại giao của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 -1954
1. Nghị quyết của hội nghị Đảng từ 13-8 đến 15-8/ 1945 xác định đường lối ngoại giao
Thế giới : 8/8/1945 Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, sau đó Liên Xô tấn công vào đông bắc Trung Quốc đánh bại 1 triệu quân Quảng Đông của Nhật, đây là lực lượng dự trử chiến lược cuối cùng của Nhật và tsự tan ră của đạo quân này trước sức tiến công của Liên Xô đă báo hiệu cuộc chiến tranh Thái B́nh Dương - mặt trận cuối cùng của chiến tranh thế giới thứ hai đă đến hồi kết thúc.
Sự thất bại của Nhật đă dẫn đến chỗ Nhật đầu hàng đông minh không điều kiện. Như vậy, chính quyền của phát xít Nhật ở Đông Dương đan hoan mang tê liệt, thời cơ khởi nghĩa đă chín mùi. Đón đầu được sự diễn biến mau lẹ của t́nh h́nh Đảng triệu tập hội nghị toàn quốc từ 13/8 ở Tân Trào quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Đồng thời đề ra chính sách đối ngoại sau khi cách mạng thắng lợi.
Vấn đề ngoại giao được tŕnh bày, trong một mục riêng trong đó đề ra đối sách cơ bản.
“ Về mặt ngoại giao tuy chúng ta đă có cố gắng nhiều nhưng măi đến giờ. Đối với Trung Hoa vẫn chưa có kết quả tốt, đối với các nước đồng minh tuy việc ngoại giao có tiếng, nhưng cách mạng Việt Nam vẫn chưa giành được địa vị khả quan trên trường quốc tế.
 Hiện nay về chính sách ngoại giao chúng ta phải nhận rơ được hai điều :
+ Mâu thuẫn giữa hai phe đồng minh Anh – Pháp và Mỹ – Trung Quốc về ván đề Đông Dương đó là điều chúng ta cần lợi dụng.
+ Sự mâu thuẫn giữa Anh – Mỹ – Pháp với Liên Xô có thể làm cho Anh – Mỹ nhân nhượng với Pháp để cho Pháp trở lại Đông Dương.
 Chính sách của ta là phải tránh các trường hợp một ḿnh đối phó với nhiều lực lượng đồng minh như : Trung Quốc, Pháp, Mỹ tràng vào nước ta và đặt chính phủ, mà đặc biệt là Pháp sẽ đưa chính phủ Đờ gôn hoặc chính phủ bù nh́n khác, đi ngược lại với ư nguyện của dân tộc. V́ vậy, chúng ta cần phải tranh thủ lại sự đồng t́nh của Liên Xô để chống lại mưu mô của Pháp, định khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương và chống lại mưu mô của bọn Trung Quốc định chiếm nước ta.
 Dù sao chỉ có thực lực của ta th́ mới quyết định được sự thắng lợi của ta và đồng minh.
 Đối với các nước nhược tiểu và nhân dân Trung Quốc, nhân dan Pháp chúng ta phải liên lạc và tranh thủ sự giúp đỡ củ họ. Như vậy, với nghị quyết trên về công tác ngoại giao th́ tư tưởng cơ bản đường lối đối ngoại đă được h́nh thành :
+ Tránh trường hợp một ḿnh đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc.
+ Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngủ kẻ thù để cô lập, thêm bạn bớt thù.
+ Có thực lực mới đảm bảo sự thắng lợi về ngoại giao
+ Tranh thủ sự ửng hộ của các nước nhược tiểu, nhân dân các nước thù địch.
+ Nghị quyết trên đă đưa cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 thành công nhanh chóng trong ṿng 15 ngày (18 đến 23). Đến 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đ́nh Hà Nội Hồ chủ tịch đọc tuyên ngôn độc lập và trịnh trọng tuyên bố thành lập nước Vịêt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa trước thế giới và đồng bào quốc dân. Sự kiện trọng đại này đă mở đầu thời ḱ lịch sử mới về đường lối ngoại giao của Việt Nam của Đảng cộng sản Đông Dương”
Sự ra đời của nước Việt nam dân chủ cộng ḥa đầu tiên ở Đông Nam Á đă được các nước trên thế giới thừa nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Trái lại nhà nước non trẻ này phải đối phó với nhiều mưu toan của chủ nghĩa đế quốc và tay sai phản động.
V́ vậy, nhiệm vụ cơ bản của đường lối đối ngoại cơ bản của thời ḱ này phải thực hiện sách lược mềm dẻo linh hoạt nhằm giữ vững chính quyền dân chủ nhân dân. Tranh thủ thời gian để có thể tích cực xây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài với Pháp về sau. Đồng thời cũng mở cuộc vận động đối ngoại để các nước trên thế giới thừa nhận về mặt ngoại giao với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa.
2. Đường lối ngoại giao trong thời ḱ đấu tranh để giữ vững và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân 3/9/1945 đến 19/2/1946
a. Thế giới
Sau khi mở mặt trận thứ hai ở Châu Âu 6/1944 cùng với phản công của Liên Xô vào hướng Béclin phát xít Đức đứng trước sự thất bại không thể tránh khỏi. V́ thế mặc dù chiến tranh ở Châu Âu chưa kết thúc th́ các nước Liên Xô, Anh, Mĩ đă họp hội nghị thượng đỉnh ở Ianta 2/1945 để bàn về việc thanh toán chiến tranh và thỏa thuận việc phân chia khu vực ảnh hưởng tổ chức lại thế giới sau chiến tranh và hội nghị cũng thống nhất về việc thành lập Liên Hiệp Quốc một tổ chức quốc tế dựa trên nền tảng 5 cường quốc Liên Xô-Trung Quốc-Anh-Pháp-Mĩ theo nguyên tắc nhất trí để duy tŕ ḥa b́nh và an ninh thế giới.
V́ vậy, tại San-Francicô từ 25/4 đến 26/6/1945. Hội nghị đại biểu của năm nước trên thế giới đă họp thông qua hiến chương Liên Hiệp Quốc và thành lập tổ chức Liên Hiệp Quốc. Như vậy với hiệp định Ianta và việc thành lập tổ chức Liên Hiệp Quốc th́ một trật tự thế giới mới được h́nh thành, dưới sự thỏa thuận giữa các cường quốc trên thế giới mà chủ yếu là Liên Xô, Mĩ, Anh.
b. Trong nước
Theo quyết định hội nghị Post Đam (17/7đến 2/8/1945). Ở Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam Anh tiến vào giải giáp quân đội Nhật. Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc sẽ cho quân đội Tưởng đảm nhận và chỉ sau một tuần 20 vạn quân Tưởng đă kéo vào Cao Bằng và một tháng sau chiếm đóng khắp nước ta, theo sau quân tưởng là các đảng phái phản động, Việt quốc, Việt cách và theo sau quân Pháp ở miền Nam có bọn đại Việt quốc xă và các giáo phái và khi quân đội Anh vào giải giáp cho Nhật đă giúp Pháp quay trở lại nổ súng đánh úp Sài G̣n 23/9/1945 và trước t́nh h́nh đó sứ ủy Nam Ḱ quyết định Nam Bộ kháng chiến.
Tóm lại, Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa ra đời trong bối cảnh quốc tế bất lợi, trật tự thế giới mới đă được hoạch định, sự đối đầu của Mĩ ngay khi chiến tranh kết thúc đă đẩy Liên Xô có thái độ lôi kéo Pháp trong vấn đề Châu Âu. Sự thay đổi chính sách của Mĩ đối với Đông Dương từ chủ kiến của tổng thống Rudơven đă đặt Đông Dương dưới sự ủy thác của quốc tế đặt Pháp khỏi Đông Dương. Đến thái độ trung lập của tổng thống Truman, điều này đă kết thúc khả năng lợi dụng mâu thuẫn của Pháp-Mĩ để mưu cầu được độc lập cho Đông Đương.
Hơn nữa chiến tranh thế giới vừa kết thúc các nước tham chiến đều lâm vào t́nh trạng kiệt huệ nên có xu hướg hướng nội. V́ vậy, nền độc lập của Việt Nam không được quốc gia nào thừa nhận về mặt ngoại giao. Thêm vào đó với tính thực dân các nước đế quốc cũng có mưu toan xóa bỏ thành quả cách mạng tháng tám.
Trong điều kiện lịch sử mới Việt Nam phải cùng một lúc phải đương đầu với quá nhiều kẻ thù trên lănh thổ của ḿnh.
Thái độ gây sức ép và âm mưu lật đổ chính phủ của bọn Tưởng ở miền Bắc.
Cuộc chiến tranh xâm lược trở lại của thực dân Pháp ở Việt Nam. Đứng trước thách thức nặng nề đó Đảng ta đứng đầu là Hồ chủ tịch với cương vị vừa là chủ tịch của chính phủ lâm thời vừa là bộ trưởng ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, đă thực hiện một sách lược đối ngoại trực tiếp với kẻ thù ngay trên đất nước của ḿnh.
Chỉ thị “kháng chiến kiến quốc và đường lối đối ngoại của Đảng” 25/11/1945 ban chấp hành trung ương Đảng ra bản chỉ thị “ kháng chiến kiến quốc trong đó khẳng định cách mạng Đông Dương vẫn là cách mạng dân tộc giải phóng”. Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành v́ nước ta chưa hoàn toàn độc lập… giai cấp vô sản phải hân hái kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng ấy. Khẩu hiệu vẫn là “dân tộc trên hết” “tổ quốc trên hết”.
Đảng ta xác định kẻ thù chính của nhân dân ta là thực dân Pháp xâm lược phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng.
Nhiệm vụ cần thiết của nhân dân ta, bản chỉ thị đă vạch rơ, đối với cách mạng thế giới “phải đấu tranh để thực hiện triệt để hiến chương các nước liên hiệp ủng hộ Liên Xô, xây dựng ḥa b́nh thế giới, mở rộng chế độ dân chủ nhân dân ra các nước giải phóng cho các nước thuộc địa”.
Đối với cách mạng Việt Nam “phải củng cố chính quyền chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản căi thiện đời sống nhân dân. Để thực hiện mục tiêu của cách mạng, bản chỉ thị đă đề ra nhiệm vụ cụ thể của công tác ngoại giao”.
Về ngoại giao cố gắng làm cho nước nhà ít kẻ thù nhiều bạn đồng minh. Muốn ngoại giao thắng lợi phải biểu dương thực lưc. Đối với Tưởng chủ trương thân thiện, đối với Pháp chủ trương độc lập về chính trị nhân nhượng về kinh tế.
Như vậy, trước sức ép của Tưởng và trước hành động xâm lược trở lại của Pháp th́ đường lối đối ngoại của Đảng là chủ trương nhân nhượng để thực hiện sách lược, khai thác sách lược khai thác Anh-Pháp-Mĩ-Tưởng, giữa các tướng lĩnh trong quân Tưởng. Nhằm khai thác kẻ thù thêm bạn bớt thù, qua đó tranh thủ thời gian ḥa b́nh củng cố chính quyền xây dựng lực lượng vũ trang, tạo được thực lực mới làm hậu thuẫn cho công tác đối ngoại.
Chỉ thị “t́nh h́nh và chủ trương của ban thường vụ trung ương Đảng 3/3/1946 và hiệp định sơ bộ 6/3/1946.
Về phía Pháp-Tưởng 28/2/1946 Tưởng Giới Thạch kí với Pháp hiệp ước Hoa Pháp tại Trùng Khánh và theo hiệp ước này Pháp sẽ vào thay Tưởng tước vũ khí của Nhật ở miền Bắc Việt Nam và đầu tháng 3/1946 Pháp đă đưa tàu chiến trở quân ra Bắc và nguy cơ chiến tranh xâm lược lan ra miền Bắc.
Về phía ta trước t́nh h́nh đó 3/3/1946 ban thường vụ trung ương Đảng họp và ra bản chỉ thị “t́nh h́nh và chủ trương” nhận định “hiệp ước Hoa Pháp không phải là chuyện riêng của Tưởng và Pháp nó là chuyện chung của phe đế quốc và bọn tay sai của chúng ở thuộc địa”, mục đích là nhằm bán đứng Việt Nam cho Pháp.
Từ nhận định trên Đảng đề ra chủ trương “ḥa với Pháp” để có thể phá tan âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động, bảo toàn lực lượng giành được giây phút nghỉ nghơi để tiến tới giành độc lập hoàn toàn”. Bản chỉ thị cũng viết “nếu Pháp giữ chủ trương cho Đông Dương tự trị theo bản tuyên ngôn 24/3/1945 th́ nhất định đánh và nhất có thể đánh lâu dài theo lối du kích. Nhưng Pháp công nhận Đông Dương tự chủ th́ có thể ḥa, ḥa để có thể phá tan âm mưu cửa bọn Tàu Trắng, bọn phản động Việt Nam và bọn phát xít c̣n sót lại, chúng đặt ta vào t́nh thế cô lập buộc ta phải đánh với nhiều kẻ thù cùng một lúc để thực lực của ta tiêu hao.
Thực hiện chủ trương trên 5/3/1946 ban chấp hành trung ương Đảng họp ở Hà Đông quyết định tạm ḥa hơan với Pháp kí hiệp định sơ bộ 6/3/1946.
Nội dung hiệp định :
+ Chính phủ Pháp công nhận nước VN dân chủ cộng ḥa là một quốc gia tự do, có chính phủ riêng, nghị viện riêng, quân đội riêng, tài chính riêng và là thành viên trong liên Ban Đông Dương, nằm trong khối liên hiệp Pháp.
+ Chính phủ Vn dân chủ cộng thỏa thuận để cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế quan Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, số quân này rút dần trong 5 năm.
+ Hai bên ngừng mọi xung đột ở miền Nam và giữ nguyên quân đội của ḿnh tại vị trí cũ, tạo điều kiện cần thiết đi đến cuộc đàm phán thân thiện để bàn các vấn đề về ngoại giao của VN, chế độ tương lai của Đông Dương, quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở VN.
Sau hiệp định sơ bộ Pháp cố t́nh bội ước ǵ dă tâm của Pháp là xâm lược nước ta một lần nữa. V́ vậy, để dành thêm thời gian ḥa b́nh chuẩn bị lực lượng Hồ chủ tịch đă kí thêm với Pháp bản tạm ước 14/9/1946. Trong khi đó thực dân Pháp không ngừng kiêu khích lấn chiếm nhằm xóa bỏ thành quả của cách mạng tháng 8, mưu toan áp đặt trở lại bộ máy thống trị như trước chiến tranh. Không thể nhân nhượng được nữa trong hai ngày 18-19/12/1946 hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng họp ở Vạn Phúc (Hà Đông) đă quyết định phát động toàn quốc kháng chiến vào 8h tối 19/12/1946. Sự kiện này mở ra thời ḱ mới, thời ḱ toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp.
3. Đường lối đối ngoại của Đảng trong thời ḱ chống thực dân Pháp can thiệp Mĩ (1946-1954)
a. Đường lối đối ngoại của Đảng trong thời ḱ kháng chiến bị cô lập
Cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra trong hoàn cảnh đất nước gặp rất nhiều khó khăn bị cô lập bao vây (ở phía Bắc lực lượng Trung Hoa quốc dân đảng đang án ngự, ở phía Tây Lào-Campuchia bị Pháp chiếm đóng, c̣n vùng biển Đông do hạm đội Pháp kiểm soát).
Trên thế giới cuộc kháng chiến của chúng ta cũng bị cô lập, Liên Xô đang đối phó với Mĩ trong vấn đề Châu Âu cho nên ảnh hưởng của Liên Xô chưa có thể vượt qua giới hạn của lục địa này, Mĩ dựa vào tiềm lực quân sự chính trị đứng đầu thế giới, Mĩ bắt đầu cuộc chiến tranh lạnh chống Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản nhằm ngăn chặn và đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản.
Trong bối cảnh quốc tế bất lợi như vậy, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta diễn ra hết sức khó khăn 22/12/1946 Ban thường vụ trung ương Đảng đề ra bản chỉ thị “toàn dân kháng chiên”, bản chỉ thị đă vạch ra những nét cơ bản của đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường ḱ, tự lực, cách sinh”. Đồng thời bản chỉ thị cũng đề ra nhiệm vụ đối ngoại : “Đông Dương hiện nay đang bị hăm trong ṿng quay của chủ nghĩa đế quốc nhiệm vụ là phải liên minh với các dân tộc bị áp bức vô sản thế giới đặc biệt là những nước lân cận để củng cố công cuộc cách mạng của ḿnh” “lợi dụng những khả năng mới và mở rộng công việc tuyên truyền quốc tế và vận động phái đại biểu dự hội nghị của Liên Hiệp Quốc”...Thực hiện đường lối đôi ngoại đó liên minh chiến đấu của lực lượng vũ trang ba nước Đông Dương được h́nh thành (bộ đội Việt Nam chiến đấu ở chiến trường Lào 1947, ở Cmâpuchi 1948).
Để phá thế bao vây cô lập 1947 chủ tịch Hồ Chí Minh đă giử điện đến các nhà lănh đạo Châu Á kêu gọi sự ủng hộ cuộc kháng chiến Việt Nam, cử đại biểu tham dự liên Á dự lễ tuyên bố độc lập của Miến Điện, dự hội nghị các nước Châu Á ủng hộ Inđô chống lại sự xâm lược của Hà lan.
Đế năm 1948 chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa có đại viện thường trú tại Pari, Bangcoc.....
b. Đại hội đại biểu toàn quốc lần hai của Đảng về cuộc h́nh thành đường lơi đối ngoại
Đến năm 50 t́nh h́nh thế giới có nhiều biến chuyển có lợi cho cách mạng Việt Nam.
+ Phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh sau chiến tranh thế giới thứ hai.
+ Nội chiến ở Trung Quốc bùng nổ.
+ Nhân dân các nước Đông Âu dưới sự lănh đạo của Đảng cộng sản đang đấu tranh quyết liệt để thiết lập chế độ dân chủ nhân dân để tiến lên chủ nghĩa xă hội ở các nước thuộc địa, phụ thuộc.
Phong trào giải phóng dân tộc dâng cao với t́nh h́nh trên đă diễn biến vượt ngoài khuôn khổ của trật tự hai cực Ianta và để cứu vản nguy cơ hệ thống chủ nghĩa tư bản tan vở Mĩ vựa vào tiềm lực kinh tế tài chính quân sự, công khai phát động chiến tranh lạnh đề ra học thuyết ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn cầu và sự tập hợp lực lượng mới của các nước đế quốc dưới lá cờ của Mĩ đă làm nảy sinh nguy cơ chiến tranh thế giới mới đe dọa ḥa b́nh nhân loại đe dọa an ninh Liên Xô.
Trước t́nh h́nh đó 9/1947 theo sáng kiến của Đảng cộng sản Liên Xô và một số Đảng cộng sản ở Đông Âu và Tây Âu đă họp hội nghị tại Vac-xa-va, hội nghị đă nêu bật những nét cơ bản nhất của t́nh h́nh thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Thế giới sau chiến tranh chia thành hai phe đối lập
Lực lượng cách mạng tăng lên rất nhiều trong khi đó lực lượng đế quốc suy yếu dần.
Trung tâm phản động quốc tế chuyển sang tay Mĩ.
Ngày 1/9/1949 cách mạng Trung Quốc thành công và sự thắng lợi của cuộc cách mạng nhân chủ nhân dân ở các nước Đông Âu đă dẫn đến hệ thống chủ nghĩa xă hội ra đời, đến đây hội nghị cán bộ trung ương đang họp 31/7 đến 1/8/1946 nhận định : “địa vị của Đông Dương hiện nay đang trở nên rất quan trọng trong trường cách mạng là nơi đế quốc Anh, Mĩ, Pháp chủ động dàn xếp chú ư chuyển hướng tấn công và uy hiếp phong trào cách mạng giải phóng của các nước nhược tiểu”.
Từ năm 1950 với cuộc chiến tranh Đông Dương nó được quốc tế hóa trở thành nơi đối đầu quyết liệt giữa hai phe, cùng lúc này đầu năm 50 các nước xă hội chủ nghĩa lần lược công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
Cùng lúc ấy Mĩ đă vừa viện trợ ngân sách chiến tranh cho Pháp và cũng vừa công nhận và xây dựng chính phủ bù nh́n để chuẩn bị thay chân Pháp ở Đông Dương, trong điều kiện đó tổng bí thư Đảng Trường Trinh đă nhận định “...là tiền đồ trên pḥng tuyến chống đế quốc ở Đông Nam Á của Việt Nam hiện là nơi xung đột giữa hai lực lượng dân chủ và phản dân chủ trên thế giới. Cuộc chiến tranh Việt Pháp không thể bóc trần mâu thuẫn tột bật giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp mà nó chính là một bộ phận của cuộc chiến tranh giữa hai phe dân chủ chống đế quốc và đế quốc phản dân chủ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Như vậy, việc Liên Xô và các nước dân chủ công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam dân chủ cộng ḥa đă chứng tỏ rằng Việt Nam là một vấn đề quốc tế.
Tháng 10/1950 chiến dịch biên giới thắng lợi, căn cứ Việt Bắc được nối liền hệ thống xă hội chủ nghĩa trên thế giới, nhờ đó mà cách mạng Việt Nam, Đảng ta triệu tập đại hội đại biểu toàn quốc lần hai (2/1951) tại Việt Bắc và đại hội cũng đă nêu rơ bản luận cương cũng nhận định t́nh h́nh thế giới như sau : thế giới chia thành hai phe đối lập, phe dân chủ chống đế quốc do Liên Xô đứng đầu c̣n phe đế quốc chống dân chủ do Mĩ đứng đầu riêng đối với cách mạng Việt Nam th́ bản luận cương cũng đưa ra nhận định có tính chất tổng kết “cách mạng tháng tám chống phát xít và bọn bù nh́n tay sai của chúng đă lập ra chính quyền nhân dân do giai cấp công nhân lănh đạo là một cuộc cách mạng có tính chất dân tộc dân chủ đây là thắng lợi đầu tiên ở một nước thuộc địa tại Đông Nam Á....”.
Từ những nhận định trên t́nh h́nh thế giới và t́nh h́nh cách mạng Việt Nam bản luận cương cũng khẳng định nhiệm vụ cách mạng Việt Nam là phải tiêu diệt Pháp đánh bại bọn can thiệp Mĩ giành độc lập thống nhất hoàn toàn bảo vệ ḥa b́nh ở Đông Nam Á và trên thế giới và cũng từ nhiệm vụ trên Đảng ta đă đề ra đường lối đối ngoại như sau “chính sách đối ngoại của ta là phải thắm nhuần tính dân tộc và tính dân chủ, tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản. Nguyên tắc cơ bản của chính sách này là bảo vệ độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lănh thổ của nước Việt Nam ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở những nước thuộc địa và nửa thuộc địa, bảo vệ ḥa b́nh dân chủ thế giới chống bọn đế quốc gây chiến và xâm lược, đoàn kết chặt chẽ với Liên Xô và Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân khác, đặt quan hệ hữu nghị với các nước trên cơ sở b́nh đẳng cùng có lợi”.
Với đường lối đối ngoại nêu trên công cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam đă tranh thủ sức mạnh to lớn của thời đại đó là sự giúp đỡ của nước Liên Xô và Trung Quốc các nước xă hội chủ nghĩa khác, sự đồng t́nh ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới.
Kể từ sau chiến thắng biên giới 1950 ta liên tiếp mở nhiều chiến dịch tấn công vào hệ thống pḥng tuyến của địch và với chiến thắng lịch sử của Điện Biên Phủ ta đă làm thất bại cuộc chiến tranh xâm lược Pháp có can thiệp Mĩ buộc Pháp phải ngồi vào bàn hội nghị Giơ nevơ và đến đầu 1954 trong cuộc họp ngoại trưởng bốn cường quốc Liên Xô-Anh-Mĩ-Pháp ở Béclin hội nghị Giơ nevơ về Đông Dương chính thức khai mạc 26/4/1954 bàn về chấm dứt chiến tranh lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương.
Trước đó 27/2/1954 trung ương Đảng cũng nhận định “Hội nghị Giơ nevơ là một bước tiến mới làm cho t́nh h́nh thế giới và viễn Đông hết sức căn thẳng việc khôi phục ḥa b́nh ở Việt Nam là ư nguyện của nhân dân ta ...đến 8/1954 sau chiến thắng Điện Biên Phủ một ngày phái đoàn ta do Phạm Văn Đồng đến dự với tư thế là một kẻ chiến thắng”.
Nội dung :
Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản là độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lănh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, campuchia ; cam kết không can thiệp vào công việc nội bộc của ba nước đó.
Hai bên tham chiến cùng ngừng bắn, lập lại ḥa b́nh trên toàn Đông Dương.
Hai bên tham chiến thực hiện cuộc di chuyển, tập kết quân đội ở hai vùng. Ở Việt Nam, quân đội cách mạng Việt Nam và quân đội viễn chinh Pháp tập kết ở hai miền Bắc - Nam, lấy vĩ tuyết 17 (dọc theo sông Bến Hải - Quảng Trị) làm giới tuyến quân sự tạm thời cùng với một khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến. Ở Lào lực lượng kháng chiến tập kết ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phongxaĺ. Ở Campuchia lực lượng kháng chiến phục viên tại chỗ, do không có vùng tập kết.
c. Hiệp đinh Giơ nevơ với thắng lợi và hạn chế
Tháng 8/1954 phái đoàn do Phạm Văn Đồng dẫn đầu đến dự hội nghị cùng với sự tham dự của Liên Xô, Trung Quốc, Mĩ, Anh, Pháp và các bên tham chiến. Với chiến thắng Điện Biên Phủ một ngày 7/5/1954 đă củng cố vị thế của Việt Nam trên bàn hội nghi. Tuy nhiên tại hội nghị Việt Nam với lập trường trên bàn hội nghị ḥa b́nh trên cơ sở độc lập thống nhất toàn vẹn lănh thổ cho ba nước Đông Dương đă trở nên đơn độc, mặc dù Việt Nam có hai nước đồng minh bên cạnh. Như vậy, Việt Nam không thể đối đầu với các nước đế quốc Anh-Pháp-Mĩ tại bàn hội nghị mà c̣n phải đối phó với sức ép chủ nghĩa “thực tế” chủ nghĩa “thực dụng” từ phía các nước đồng minh. C̣n Liên Xô bước vào bàn hội nghị với quan điểm cùng “tồn tại ḥa b́nh”. Như vậy, với hiệp định Giơ nevơ ta kiên quyết đấu tranh chống mội hành động phá hoại Anh-Phá-Mĩ
Liên Xô bước vào hội nghị với quan điểm “cùng tồn tại ḥa b́nh” Trung Quốc với vị trí là nước viện trợ quân sự chủ yếu và nắm con đườg vận chuyển duy nhất chi viện cho Việt Nam, cũng đă bí mật thảo luận riêng với Pháp và cả hai bên cùng thống nhất, những nét cơ bản về một hiệp định ngừng bắn ở Đông Đương. Bởi v́ cả hai phía có chung một lập trường là giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương bằng một giải pháp theo kiểu Triều Tiên (chia cắt Việt Nam) duy tŕ chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương, mục tiêu trước mắt ở Trung Quốc là nhằm thông qua hội nghị Giơ nevơ để h́nh thành một khu đệm ở phía Nam (Trung Quốc) ngăn chặn Mĩ thay thế Pháp ở Đông Đương, tránh đụng đầu trực tiếp với Mĩ. Như vậy, cũng có nghĩa là Trung Quốc muốn thực hiện một chính sách cổ truyền của đế chế Trung Hoa đối với khu vực Đông Nam Á đó là : chủ trương duy tŕ ḥa b́nh ở sườn phía Nam bằng cách thiết lập một sự cân bằng vựa trên sự ḱnh địch chống đối giữa các quốc gia trong khu vực đó là ḥa b́nh theo kiểu Tàu.
Chính v́ vậy đối với ta đoàn kết với Lào-Campuchia luôn được xem là tính nguyên tắc đường lối đối ngoại của Đảng, nhằm đảm bảo mục tiêu ḥa b́nh độc lập dân tộc và phát triển, không những trong sự nghiệp chống kẻ thù chung, chống chủ nghĩa đế quốc mà c̣n chống cả thế lực bành trướng trong khu vực.
Trung Quốc không chỉ gây sức ép với Việt Nam trên lập trường hội nghị, mà trực tiếp với các nhà lănh đạo trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở Việt Nam. Cho nên từ ngày 3-5/7/1954 thủ tướng Chu Ân Lai đă gặp Hồ chủ tịch ở biên giới Việt-Trung, sau đó đă giử điện văn đến ban chấp hành trung ương Đảng với nội dung là thúc ép Việt Nam trên bàn hội nghị.
Trước t́nh h́nh quốc tế diễn biến bất lợi cho cách mạng Việt Nam để tránh bị cô lập Đảng đă chấp nhận sự nhượng bộ đi đến đ́nh chiến lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương.
Sau đó hội nghị trung ương lần VI khóa II họp từ 15-18/7/1954 quyết định chủ trương kết thúc chiến tranh lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương. Tại hội nghị Hồ Chí Minh đă đọc bản báo cáo về nhiệm vụ mới t́nh h́nh mới. Điều chỉnh lại cương lĩnh kháng chiến chống thực dân Pháp, báo cáo cũng đă nhận định rơ “sau chiến thắng Điện Biên Phủ âm mưu và kế hoạch can thiệp của Mĩ cũng thay đổi, để kéo dài chiến tranh Đông Dương phá hoại hội nghị Giơ nevơ t́m mọi cách hất cẳng Pháp để chiếm ba nước Việt Nam-Miên-Lào biến nhân dân Việt-Miên-Lào thành nô lệ của Mĩ và gây thêm t́nh h́nh căng thẳng trên thế giới. Như vậy, Mĩ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới mà Mĩ đang biến thành kẻ thù chung và trực tiếp của nhân dân Việt-Miên-Lào.
Trước t́nh h́nh mới đó trong bản báo cáo, Đảng ta đă nêu lên khẩu hiệu mới là “Ḥa b́nh, thống nhất, độc lập, dân chủ” chống đế quốc Mĩ kéo dài mở rộng chiến tranh ở Đông Dương. Và ngày 13/5/1954 Mĩ đă đưa Ngô Đ́nh Diệm lên làm thủ tướng bù nh́n chuẩn bị thay cho Pháp ở Đông Dương. Sự kiện đó cùng với sức ép của Trung Quốc đă buộc Đảng ta phải chuyển hướng đường lối đối ngoại và Trung Quốc cũng chuyển hướng đường lối xem Mĩ là kẻ thù trực tiếp nguy hiểm.
Với sự chuyển hướng đường lối đối ngoại của hội nghị trung ương lần VI khóa II ngày 20/7/1954 hội nghị Giơ nevơ về Đông Dương đă được kí kết với sự tham dự của chín nước “theo tài liệu sự thật quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua” của bộ ngoại giao Việt Nam công bố 4/10/1979 đă đánh giá về thắng lợi của Việt Nam tại bàn hội nghị Giơ nevơ như sau : “chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Giơ nevơ 1954 đánh dấu một bước thắng lợi của các lực lượng cách mạng ở Đông Dương, đồng thời là một đóng góp quan trọng mở đầu sự tan ră hoàn toàn của hệ thống thuộc địa của đế quốc Pháp và báo hiệu quá tŕnh sụp đổ không thể tránh được của chủ nghĩa thực dân cũ chủ nghĩa đế quốc thế giới. Những giải pháp của hiệp định Giơ nevơ đă ngăn cản nhân dân ba nước Việt Nam-Campuchia-Lào chưa đạt được thắng lợi ḥan toàn trong cuộc kháng chiến chống Pháp...”.
Riêng Mĩ là nước duy nhất tham dự hội nghị và không kí kết hiệp định, với mưu đồ sau này rảnh tay biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới thành căn cứ quân sự, làm bàn đạp tấn công miền Bắc, ngăn chặn phe xă hội chủ nghĩa. V́ vậy, mục tiêu độc lập thống nhất tổ quốc của ta vẫn chưa thể hoàn thành và cũng v́ thế mà đường lối đối ngoại của ta vẫn là đường lối đối ngọai một phe dựa vào phe xă hội chủ nghĩa vẫn là chủ yếu Trung Quốc-Liên Xô đồng thời đoàn kết với nhân dân hai nước Lào -Campuchia và nhân dân tiến bộ trên thế giới.
II. Sau hiệp định Giơ nevơ và sự chuyển hướng đường lối đối ngoại
Trong hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng họp 15-18/7/1954 đă nhận định Mĩ vẫn là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và đang trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Đông Dương. Hội nghị đề ra nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là chuyển mũi nhọn đấu tranh vào Mĩ và bọn hiếu chiến Pháp để củng cố ḥa b́nh thực hiện thống nhất hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Sau hiệp định Giơ nevơ bộ chính trị cũng đề ra nghị quyết về t́nh h́nh mới của cách mạng cả nước và cách mạng miền Nam, bộ chính trị cũng đă phân tích sâu sắc về t́nh h́nh những đặc điểm t́nh h́nh cách mạng nước ta, mà đặc điểm lớn nhất là nước ta chia thành hai miền.
1. Bối cảnh thế giới
Trung Quốc cuối 1957 trong kế hoạch hoạt động khôi phục sự giảm sút của ḿnh th́ Mao Trạch Đông đă khai thác các sự kiện quốc tế (điển h́nh như cuộc nổi dậy một số người tại Bungari 10/1956 để lên án sự sai lằm của cộng sản đặc biệt là của Liên Xô). Mao Trạch Đông đă đề cập đến t́nh h́nh xây dựng chủ nghĩa xă hội theo đường lối khác với Liên Xô.
Tháng 5/1958 tại ḱ họp lần thứ II của đại hội lần thứ VIII Đảng cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông đă đưa ra sáng kiến thực hiện đường lối ba ngọn cờ hồng với phương châm “dốc ḷng hân hái tiến lên hàng đầu sản xuất nhiều nhanh, tốt rẻ” thực hiện công xă nhân dân, đại nhảy vọt và với đường lối đó đă đưa đến cái giá phải trả cho kế hoạch của Mao Trạch Đông là quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc trở nên căng thẳng do Liên Xô không tán thành phương hướng xây dựng chủ nghĩa xă hội theo kiểu Trung Quốc. Tháng 8/1960 Liên Xô đă rút toàn bộ chuyên gia về nước quan hệ hai nước rạn nứt nội bộ Đảng cộng sản Trung Quốc có nhiều phân hóa.
Mĩ đem Việt nam làm thí điểm cho chính sách quân sự bạo lực, sử dụng quân sự tối đa để đẩy lùi ảnh hưởng “làng sóng đỏ” ngọai trưởng Mĩ Đalet đă nói “không có sự chung dung và nếu ai không chịu hệ tư tưởng Mĩ nghĩa là thù” và Mĩ tích cực can thiệp quân sự vào các nước Cuba 1961 Bosevia, đặc biệt là Việt Nam và Mĩ đă cho ra đời nhiều tổ chức quân sự thiết lập những tố chức quân sự do Mĩ chi phối thành những đồn lũy chống cộng : Sento, Seato...Song song đó cũng kí hàng loạt hiệp ước quân sự với : Đài Loan, Nhật Bản, Thái Lan...
2. Trong nước
a. Miền Nam
Nhân dân Việt Nam bị dồn vào t́nh thế cực ḱ quan trọng. Ngô Đ́nh Diệm sau khi lên cầm quyền dưới sự giúp đỡ của Mĩ đă cố t́nh phá hoại cuộc tổng tuyển cử, đẩy mạnh sự đàng áp khủng bố đối với đồng bào miền Nam lập các ṭa án thi hành luật 10/59 mở hàng loạt chiến dịch tố cộng diệt cộng, cải cách điền địa.
Trong hoàn cảnh đó bộ chính trị họp hội nghị vào tháng 6/1956 ra nghị quyết, nhận định phương hướng trước mắt của cách mạng miền Nam là ngăn chặn những thủ đoạn phát xít và âm mưu gây chiến của Mĩ-Diệm đ̣i quyền lợi thiết thực và cấp bách của quần chúng giữ vững và phát triển thực lực, chuẩn bị điều kiện đánh đổ Mĩ-Diệm, nghĩa là miền Nam đang trong tư thế giữ ǵn lực lượng.
b. Miền Bắc
Được giải phóng Đảng lănh đạo nhân dân miền Bắc hàng gắn vết thương chiến tranh thực hiện cải cách ruộng đất cải tạo quan hệ sản xuất xă hội chủ nghĩa làm cho miền Bắc vững mạnh và trở thành hậu phương vững chắc cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.
3. Đường lối đối ngoại của Đảng
Sau hiệp định trước quan hệ quốc tế hết sức phức tạp đ̣i hỏi Đảng ta phải nhận định một cách khách quan và đánh giá đúng mức những sự kiện quốc tế, chuẩn bị một đối sách ngoại giao độc lập tự chủ đặc biệt trong những quyết định về quan hệ quốc tế.
Nghị quyết lần thứ XV của ban chấp hành trung ương Đảng khóa II 1/1959 xác định nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng cả nước là ḥan thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước và đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xă hội.
Đối với quốc tế hội nghị nhận định : cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới có nhiệm vụ góp phần vào bảo vệ tăng cường phe xă hội chủ nghĩa, ủng hộ phong trào độc lập dân tộc, đồng thời cũng phải tranh thủ sự ủng hộ đồng t́nh giúp đỡ của phe xă hội chủ nghĩa cũng như phong trào độc lập dân tộc và phong trào ḥa b́nh dân chủ trên thế giới. Ngoài ra Đảng c̣n chủ trương tranh thủ giải quyết vấn đề thống nhất đất nước bằng con đường ḥa b́nh.
Riêng về quan hệ Trung Quốc, Trung Quốc không ngừng ép ta theo đường lối trường ḱ may phục đối với cách mạng miền Nam Việt Nam và Trung Quốc luôn có chiều hướng tác động đối với ta. Chính v́ vây, đường lối xây dựng của nước ta ít nhiều bị ảnh hưởng của Trung Quốc và cả trong công tác đối ngoại.
Sự rạn nứt giữa Liên Xô-Trung Quốc cũng đă tạo nên mối quan hệ rạn nứt với các nước xă hội chủ nghĩa, gây khó khăn trong việc đồng t́nh giúp đỡ Việt Nam. V́ vậy, Đảng ta phải có đường lối đối ngoại khéo léo biết ứng xử, để có nhiều thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xă hội miền Bắc, chống Mĩ ở miền Nam, giải quyết như thế nào trước rạn nứt Liên Xô-Trung Quốc. Đoàn kết với Liên Xô tranh thủ sự giúp đỡ của Trung Quốc cũng chính là sự tăng cường sự đồng t́nh và giúp đỡ phe xă hội chủ nghĩa và t́m mọi biện pháp để giải quyết những vấn đề phức tạp giữa Liên Xô-Trung Quốc đồng thời cũng tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới.




* Hosted for free by InvisionFree